Hà Thủ Ô là gì? Phân loại, tác dụng của Hà Thủ Ô

HÀ THỦ Ô LÀ GÌ?

Giới thiệu Hà thủ ô

Tên khoa học: Fallopia multiflora (Thunb.) Haraldson = Polygonum multiflorum Thunb.), họ Rau răm (Polygonaceae). Hà thủ ô là loại dây leo nhỏ, sống khá lâu và thường được gọi bằng nhìu cái tên khác như dạ hợpgiao đằng. Hà thủ ô có khá nhiều tác dụng và được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia châu Á, đặt biệt là Việt Nam và Trung Quốc. Ngoài việc giúp tóc đen, ít bạc, hà thủ ô còn giúp nhuận tràng, bổ máu, an thần, dưỡng can…

Có câu “Muốn cho xanh tóc đỏ da – Rủ nhau lên núi tìm hà thủ ô”. Từ lâu tác dụng của hà thủ ô đã được sử dụng trong nhiều bài bổ, làm tăng cường sức khỏe và sự trẻ trung của cơ thể.

Truyền thuyết về Hà thủ ô

Tương truyền rằng vào đời Đường, có một người tên là Hà Điền Nhi, từ nhỏ sinh ra đã hay đau ốm, đến năm 58 tuổi vẫn chưa có con nối dõi nên luôn buồn phiền. Có một lần, họ Hà vì quá uất ức nên đã uống rượu say và ngủ quên ở bìa rừng. Lúc thức giấc, anh ta bỗng thấy có một dây leo có thân quấn thành từng cặp, từng cặp trông khá lạ mắt ngay cạnh mình Đợi cho đến khi trời sáng, Hà Điền Nhi bèn đào lấy rễ cây mang về nhà và kiên trì sắc uống.

Không ngờ điều thần kì đã xuất hiện, tóc của ông ta từ trắng chuyển sang đen, thân hình cường tráng vạm vỡ hẳn, và trong 10 năm sinh liền mấy đứa con, sống thọ tới tận 160 tuổi. Về sau một người cháu nội của Hà Điền Nhi cũng nhờ uống loại dây leo này thọ đến 130 tuổi tóc vẫn đen. Từ đó, anh ta đã đem loại cây này chia sẻ cho bà con lối xóm cùng biết, chính vì vậy mọi người lấy tên của Hà Thủ Ô đặt cho loại dây leo này.

Phân loại hà thủ ô

Ở nước ta hà thủ ô còn được chia làm hai loại là hà thủ ô đỏ và hà thủ ô trắng, loại đỏ chính là loại thường được dùng để làm thuốc trong Đông y. Theo đông y, hà thủ ô là loại cây có vị chát, ngọt, đắng, tính hơi ấm, có tác dụng rất tốt trong việc giúp dưỡng can, an thần, chữa sốt rét, nhuận tràng và một số bệnh khác.

TÁC DỤNG (CÔNG DỤNG) CHỮA BỆNH CỦA HÀ THỦ Ô

Đọc các truyền thuyết về “hà thủ ô”, có cảm giác nhiều điều đã bị người xưa thần thánh hóa, không thật đáng tin. Tuy nhiên, các kinh nghiệm lâm sàng từ nhiều thế kỷ trong Đông y và các nghiên cứu hiện đại cho thấy, “hà thủ ô” đúng là một vị thuốc bổ dưỡng rất tốt và có thể sử dụng để chữa trị nhiều loại bệnh tật.

Theo dược lý Đông y: Hà thủ ô có vị đắng ngọt chát, tính hơi ấm; vào 2 kinh Can và Thận. Có tác dụng bổ Can, ích Thận, cố tinh, dưỡng huyết, trừ phong. Dùng chữa “Can Thận âm suy” dẫn tới vô sinh, tóc bạc sớm; huyết hư đầu thống (đau đầu do huyết hư), lưng gối yếu mỏi, gân cốt tê đau, nam giới di tinh, nữ giới băng đới (phụ nữ băng huyết, nhiều khí hư), ngược tật (sốt rét), cửu lỵ (lỵ lâu ngày), ung thũng loa lịch (mụn nhọt, tràng nhạc), trĩ tật,…

Các nghiên cứu hiện đại cho thấy “hà thủ ô” có những tác dụng:

– Hạ cholesterol trong huyết thanh máu, phòng chống và giảm nhẹ xơ vữa động mạch;

– Làm giảm nhịp tim, tăng nhẹ lượng máu lưu thông trong động mạch vành tim và chống thiếu máu cơ tim;

– Tăng cường chức năng miễn dịch, tăng sức chịu lạnh của cơ thể;

– Chống lão hóa, chống teo tuyến ức ở người cao tuổi, duy trì tuyến ức ở mức độ như người trẻ tuổi;

– Nhuận tràng, do dẫn chất oxymethylanthraquinone làm tăng nhu động ruột; “hà thủ ô” sống có tác dụng nhuận tràng mạnh hơn “hà thủ ô” chế;

– Có tác dụng ức chế đối với nhiều loại vi khuẩn và virus cúm, ức chế sự phát triển của tế bào ung thư.

Về phương diện bổ dưỡng, “hà thủ ô” có 3 tác dụng chính:

– Tăng cường chức năng sinh dục;

– Chống lão suy, kéo dài tuổi thọ;

– Làm đen râu tóc.

Cả 3 tác dụng đó, đều có được trên cơ sở tác dụng bổ huyết của “hà thủ ô”. Vì vậy, trong các sách thuốc Đông y hiện đại, “hà thủ ô” được xếp vào nhóm “thuốc bổ huyết” (bổ huyết dược).

Trong Đông y, củ “hà thủ ô” đã phơi khô, gọi là “hà thủ ô sống” (sinh “hà thủ ô”). Còn “hà thủ ô” là đã qua quá trình chế biến gọi là “hà thủ ô chế”.

Hai loại “hà thủ ô” “sống” và “chế” có tác dụng không giống như nhau:

– “Hà thủ ô sống”: Có tác dụng giải độc, tiêu thũng, nhuận tràng. Thường dùng để nhuận tràng, chữa táo bón ở người già và sản phụ, hoặc trường hợp huyết hư gây nên táo bón; chữa ung nhọt, lở ngứa ngoài da.

– “Hà thủ ô chế”: Có tác dụng bổ Can Thận, ích tinh huyết, làm đen râu tóc, mạnh gân cốt. Thường dùng để bồi dưỡng cơ thể, chữa cơ thể suy nhược, tóc bạc sớm, nam giới vô sinh, nữ giới kinh nguyệt không điều hòa hoặc bế kinh, cao mỡ máu, cao huyết áp.

CÁCH CHẾ BIẾN HÀ THỦ Ô, SỬ DỤNG HÀ THỦ Ô ĐÚNG CÁCH

Sơ chế, chế biến hà thủ ô

“Hà thủ ô” rửa sạch, thái lát, ngâm nước vo gạo một ngày đêm; rửa lại cho sạch rồi tiếp tục chế với đậu đen. Mỗi 1kg “hà thủ ô” cần dùng 100g đậu đen. Cho đậu đen vào nồi, đổ khoảng 2 lít nước, nấu cho đậu đen chín nhừ rồi chắt lấy nước. Trộn “hà thủ ô” với nước đỗ đen, cho vào đồ đựng (không dùng đồ sắt), đặt vào nồi hấp cho đến khi nước đỗ đen thấm hết vào các miếng “hà thủ ô”, sau đó lấy ra phơi hoặc sấy khô là được. Đó là cách chế thông thường. Muốn chế kỹ cần “cửu chưng cửu sái”, nghĩa là nấu và phơi “hà thủ ô” với nước đậu đen như trên 9 lần.

Cách sử dụng tương đối đơn giản

(1) Rượu bổ huyết, tăng cường chức năng sinh dục: Dùng hà thủ ô chế 150g, sinh địa 150g; các vị thuốc rửa sạch, thái nhỏ, ngâm trong 1000ml rượu trắng, cách 3 ngày lắc bình một lần, sau 15 ngày có thể sử dụng. Thứ rượu này có tác dụng bổ Can Thận, ích tinh huyết, chữa vô sinh do ít tinh trùng; còn có tác dụng chữa chóng mặt hoa mắt và tóc bạc sớm.

(2) Tăng số lượng và chất lượng tinh trùng: Hàng ngày dùng 6-10g hà thủ ô chế sắc nước uống, hoặc dùng 3-6g hà thủ ô chế tán bột uống. Bài thuốc chỉ thích hợp với những người tinh huyết suy yếu do “Can Thận âm hư” theo cách phân loại chứng bệnh của Đông y; biểu hiện bởi các chứng trạng như ham muốn tình dục giảm, chậm có con, kèm theo đầu choáng, mắt hoa, tai ù, mắt khô, mặt nóng bừng từng cơ, lưng gối đau mỏi, di tinh, mộng tinh, … Không thích hợp với những người thể chất dương hư. Nên sử dụng dưới sự hướng dẫn của thầy thuốc Đông y.

(3) Chữa tóc bạc sớm, tóc rụng nhiều: Dùng trứng gà 2 quả, hà thủ ô chế 30g; trứng gà rửa sạch vỏ, lau khô, cho trứng gà và hà thủ ô vào một cái nồi đất (hoặc đồ gốm khác), đổ ngập nước, nấu sôi rồi đun nhỏ lửa khoảng nửa giờ; vớt trứng ra bóc bỏ vỏ, lại cho vào nồi đun tiếp khoảng nửa giờ nữa là được; ăn trứng gà, sau đó uống nước thuốc. Nếu có phản ứng khác thường, như đau bụng, ỉa chảy, thì chỉ ăn trứng, không uống nước thuốc, dùng lâu ngày vẫn có tác dụng tốt.

ỨNG DỤNG LÂM SÀNG, CÁC BÀI THUỐC TỪ HÀ THỦ Ô

1. Trị chứng huyết hư, cơ thể suy nhược: có triệu chứng lưng gối mỏi nhức, váng đầu, hoa mắt, tóc bạc sớm, di tinh, huyết trắng nhiều, dùng bài:

Hà thủ ô hoàn: Hà thủ ô 20g, Thỏ ty tử 12g, Đương qui 12g, Ngưu tất 12g, Bổ cốt chí 12g, tán bột mịn, luyện hoàn với mật ong. Mỗi lần uống 8 – 12g, ngày 2 lần với nước sôi nguội hoặc nước muối nhạt. Trường hợp ra mồ hôi trộm hoặc ra nhiều mồ hôi ( tự hãn) gia Hoàng kỳ, Long cốt, Mẫu lệ, Bạch truật, Hoàng tinh, Chích thảo.

Trường hợp mất ngủ do huyết hư, dùng bài: Chế Hà thủ ô, Bắc Sa sâm, Qui bản, Long cốt, Bạch thược, mỗi thứ 12g, sắc uống.

Trường hợp thận yếu, đau lưng mỏi gối, di tinh nặng hoặc băng lậu đới hạ, sinh dục yếu, dùng bài: Thất bảo mỹ nhiệm đơn ( Thiệu ứng Tiết): Chế Thủ ô 20g, Bạch phục linh, Ngưu tất, Đương qui, Thỏ ty tử, Phá cố chỉ, mỗi thứ 12g, luyện mật làm hoàn, mỗi lần 12g, ngày 2 lần.

2. Trị lipid huyết cao, xơ cứng động mạch, cao huyết áp, bệnh động mạch vành: có tác dụng làm giảm hoặc hết triệu chứng, ổn định bệnh, làm tăng sức, thường kết hợp với Ngân hạnh diệp, Câu đằng. Có công trình nghiên cứu dùng viên Hà thủ ô ( mỗi viên nặng 0,25g gồm thuốc sống 0,81 trong đó 30% bột Hà thủ ô, 70% cao nước chế thành), mỗi lần uống 5 – 6 viên ( có người uống 8 – 10 viên), ngày 3 lần, dùng thuốc liên tục trong 2 – 12 tuần, lâu nhất 14 tháng. Trị 178 ca cholesterol huyết thanh cao, kết quả tốt 38,2%, tiến bộ 23,6%, tỷ lệ kết quả 61,8% cholesterol huyết thanh giảm bình quân 39mg% trong đó 32% bệnh nhân giảm xuống mức bình thường, đối với bệnh nhân vừa và cao, kết quả tốt ( Bệnh viện Nhân dân Thượng hải số 3 trực thuộc Y học viện điều trị trị bằng viên Hà thủ ô, Báo Công nghiệp Y dược 1974,6:1).

Trị huyết áp cao, dùng bài Hà thủ ô hợp tể: Chế Hà thủ ô, Sinh địa, Huyền sâm, Sinh Bạch thược, Nữ trinh tử, Hạn liên thảo, Sa uyển tật lê, Hy thiêm thảo, Tang ký sinh, Hoài Ngưu tất, mỗi thứ 12g, sắc nước uống.

3. Trị sốt rét lâu ngày, thương âm khó lành, dùng bài: Hà thủ ô 40g, Sài hồ 12g, Đậu đen 20g, sắc nước phơi sương 1 đêm, sáng hầm lên uống nóng. Hà Nhân ẩm: Chế Hà thủ ô 16g, Đảng sâm, Đương qui, Trần bì, Oåi khương, mỗi thứ 12g, sắc uống.

4. Trị táo bón: trị táo bón do huyết hư, tân dịch hao tổn, dùng Tứ thạch, Đơn thạch, Đơn sâm, Ngũ vị tử, Toan táo nhân, Xuyên khung ( lượng nhỏ), có kết quả. Có tác giả dùng dịch tiêm Hà thủ ô 20% tiêm bắp mỗi lần 4ml, ngày 1 lần, 20 – 30 ngày là một liệu trình; trường hợp nặng chích 1 ngày 2 lần, cách nhật, liệu trình 15 – 20 ngày, nghỉ 15 – 20 ngày, ngủ khá hơn thì 9 ngày 1 lần hoặc uống Hà thủ ô mỗi lần 5 – 7 viên ( 0,5g/viên), ngày 3 lần, trường hợp uống lâu dài, ngày 2 lần sáng tối. Trường hợp bệnh nhẹ hoặc bệnh giảm, mỗi tối uống 6 – 10 viên trước lúc ngủ. Uống và chích thay đổi dùng. Đã trị 141 ca, khỏi lâm sàng 53,9%, tiến bộ ngủ tốt 44,7%, tỷ lệ có kết quả 98,6%, theo tác giả tốt hơn loại thuốc ngủ Bromure và Meprobamate ( Bệnh viện 201 Giải phóng quân, Phân tích lâm sàng 141 ca mất ngủ bằng Hà thủ ô, Thông tin Trung thảo dược 1974,5:38).

5. Trị ho gà: dùng Hà thủ ô 6 – 12g, Cam thảo 1,5 – 3g, mỗi ngày 1 thang sắc, chia 4 – 6 lần uống, có người uống xong tiêu chảy nhẹ, dùng Kha tử hoặc Anh túc xác. Đã trị 35 ca khỏi 19 ca, cơ bản khỏi 8 ca, tiến bộ 4 ca, không kết quả 1 ca ( Vương Khởi Minh, Báo cáo về kết quả bước đầu điều trị ho gà bằng Hà thủ ô, Báo Trung y Giang tô 1965,3:10).

6. Trị sốt rét: Dùng Hà thủ ô 18 – 25g, Cam thảo 1,5 – 3g, trẻ em giảm lượng, sắc đặc sau 2 giờ, chia 3 lần uống trước bữa ăn. Trị 17 ca kết quả đều tốt ( Vương Khaởi Minh, Báo cáo 17 ca sốt rét điều trị bằng Hà thủ ô, Báo Y học Quảng Đông 1964,4:31).

8. Trị tóc bạc: Dùng Hà thủ ô chế, Thục địa hoàng mỗi thứ 30g, Đương qui 15g, ngâm vào 1000ml rượu trắng 10 – 15 ngày, sau cùng mỗi lần 15 – 30ml, uống liên tục cho đến khi kết quả. Điều trị 36 ca ( 20 ca bạc từng đám, 16 ca rải rác bệnh kéo dài từ 1 đến 10 năm, kết quả khỏi 24 ca, tiến bộ 8 ca, tỷ lệ kết quả 88,9% ( Triệu Hồng Bân, Rượu Hà thủ ô trị tóc bạc, Tạp chí Trung Y Sơn đông 1983,4:41).

9. Trị tổn thương thần kinh quay: dùng Hà thủ ô 30g sắc, chia uống sáng và chiều, liệu trình 1 tháng. Theo dõi 14 ca, tỷ lệ khỏi 86,7% ( Truyền Bằng Liêu, Báo cáo 14 ca tổn thương thần kinh quay trị bằng Hà thủ ô, Tạp chí Trung hoa Trung y cốt thương khoa 1988,1:34).

10. Ngoài ra còn có báo cáo dùng trị mề đay, lở nhọt, trị nốt ruồi, tinh trùng yếu.

Giới thiệu một số bài thuốc đơn giản có Hà thủ ô thường dùng trong nhân dân để bổ dưỡng đối với người suy nhược:

Hà thủ ô 10g, Đại táo 5g, Thanh bì 2g, Trần bì 3g, Sinh khương 3g, Cam thảo 2g, nước 600ml, chia 3 lần uống trong ngày.

Hà thủ ô hoàn: Hà thủ ô 1.800g thái mỏng, Ngưu tất 600g thái mỏng. Hai vị trộn đều, dùng 1 đấu to đậu đen đãi sạch. Cho thuốc vào chõ, cứ một lượt thuốc 1 lượt đậu. Đồ chín đậu, lấy thuốc ra phơi khô. Làm như vậy 3 lần rồi tán bột. Lấy thịt Táo đen trộn với bột làm thành viên 0,5g, ngày uống 3 lần, mỗi lần 30 viên, dùng rượu hâm nóng, chiêu thuốc ( theo Hòa tể cục phương).

Hà thủ ô tán (Bản thảo cương mục): Hà thủ ô cạo vỏ, thái mỏng, phơi khô, tán bột. Ngày uống 4g vào sáng sớm, chiêu với rượu.

NGUY HIỂM KHÔN LƯỜNG VÌ HÀ THỦ Ô THẬT GIẢ KHÓ PHÁT HIỆN, NHỮNG LƯU Ý KHI DÙNG HÀ THỦ Ô

Hà thủ ô thật giả khó phân biệt

Một lương y cho biết, ông không bao giờ dám dùng hà thủ ô hiện bán ở thị trường vì chúng thật – giả lẫn lộn và không thể đảm bảo chất lượng. Bởi, theo kinh nghiệm của ông, hà thủ ô đỏ thật và đạt chất lượng, ngoài màu sắc còn có thể nhận biết mùi của nó rất thơm, gần như nhân sâm. Hơn nữa, giá gốc 1kg hà thủ ô đỏ bán tại Sapa đã là 140 ngàn đồng, chứ làm sao có giá 40 – 65 ngàn đồng/kg được. Ông cho biết thêm, hà thủ ô thật nếu chế biến đúng cách (khá phức tạp không nằm trong phạm vi bài viết này) thì giá thành có thể lên đến 600 ngàn đồng/kg.

Theo các dược sĩ, hà thủ ô phải chế biến kỹ để giảm bớt thành phần tannin có sẵn trong dược liệu. Thành phần này nếu có nhiều sẽ làm cho hà thủ ô có vị chát, uống vào sẽ kích ứng niêm mạc dạ dày, đến ruột sẽ làm săn se niêm mạc ruột, giảm co thắt ruột gây táo bón, tích tụ chất độc trong cơ thể. Nếu dùng lâu ngày sẽ có ảnh hưởng không tốt trên gan thận. Còn nếu dùng hà thủ ô đã lâu ngày bị biến chất hoặc ẩm mốc sẽ có hại cho gan, thận.

Một dược sĩ còn cho biết thêm, hiện cũng có một số mẫu hà thủ ô đỏ đã bị chiết xuất một phần hoặc toàn bộ hoạt chất trước khi đem ra bán trên thị trường ở dạng dược liệu khô. Đó là tác hại nếu dùng hà thủ ô chế biến không đúng cách hoặc kém chất lượng, còn dùng thứ giả như củ nâu thì sao? Có người cho rằng, củ nâu không độc, bằng chứng là đôi khi người ta dùng nó như là một thứ thực phẩm. Thực tế, củ nâu muốn ăn phải gọt bỏ vỏ rồi đem ngâm ở suối nhiều ngày mới có thể dùng được, vì hàm lượng tannin có trong củ nâu rất cao. Ngoài ra khi dùng củ nâu để thay thế hà thủ ô đỏ, ngoài việc không đạt hiệu quả như mong muốn có thể gây độc cho cơ thể nếu dùng lâu ngày.

Những điều kiêng kỵ đối với hà thủ ô

– Theo Đông y cổ truyền, khi dùng “hà thủ ô” hoặc thuốc có “hà thủ ô”, cần kiêng dùng 3 loại thực phẩm màu trắng (tam bạch), là hành, tỏi và củ cải trắng.

– Ngoài ra theo y lý và dược lý Đông y, khi dùng “hà thủ ô” còn cần kiêng kỵ những món ăn và gia vị có tính cay nóng như gừng, ớt, hành tây, hồ tiêu, để phòng ngừa hao tán khí huyết.

Coi nhẹ việc kiêng kỵ, có lẽ là một trong những nguyên nhân khiến người hiện đại sử dùng “hà thủ ô” không kiến hiệu mạnh như người xưa.

Uống hà thủ ô cẩn thận đau gan, ung thư

Nếu dùng không đúng không chỉ gây tiêu chảy, rối loạn điện giải, viêm gan mà còn kích thích khối ung thư phát triển… Hà thủ ô là một vị thuốc bổ nổi tiếng trong Đông y, không chỉ làm người già hóa trẻ, tóc bạc hóa đen mà còn chữa được nhiều bệnh lý khác. Tuy nhiên, nếu dùng không đúng không chỉ gây tiêu chảy, rối loạn điện giải, viêm gan mà còn kích thích khối ung thư phát triển…

Những người bị rối loạn tiêu hóa, viêm đường tiêu hóa như đau dạ dày… thì không nên dùng, nhất là hà thủ ô chưa qua chế biến. Bởi thành phần anthraglucosid gây nhuận tràng mạnh trong hà thủ ô có thể gây ra tiêu chảy mạnh, làm giảm hấp thụ kali, gây rối loạn điện giải khiến cơ thể bị yếu, thần kinh cảm giác bị rối loạn, người bệnh có cảm giác bị tê bì hay như kiến bò, chân tay không thật… Đặc biệt, tuy chưa rõ cơ chế nhưng thực tế nhiều nhiều trường hợp viêm gan do dùng hà thủ ô ở nhiều cấp độ (vàng da, men gan tăng…) đã được ghi nhận và báo cáo. Do đó, khi dùng nếu có dấu hiệu chán ăn, mệt mỏi, vàng da thì nhiều khả năng đã bị nhiễm độc gan cần phải ngừng dùng.

Hơn nữa, trong hà thủ ô có hoạt tính estrogen thực vật khá cao, dễ gây kích thích khối u phát triển và khối ung thư tái phát. Vì thế, những người có tiền sử bị ung thư hay đang điều trị ung thu vú hoặc tử cung không nên dùng. Ngoài ra, những bệnh nhân chuẩn bị phẫu thuật cũng không được dùng vì nó gây hạ đường huyết, dẫn đến tử vong.

GET THE BEST DEALS IN YOUR INBOX

Don't worry we don't spam

We will be happy to hear your thoughts

Leave a reply

HayZu
Register New Account
Reset Password
Compare items
  • Total (0)
Compare
0